27/05/2024


27/05/2024
27/05/2024
Câu 1:
- Đoạn trích trong tác phẩm: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
- Thể thơ năm chữ
Câu 2: Bức tranh thiên nhiên xứ Huế được miêu tả qua những hình ảnh: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời, giọt long lanh.
Câu 3:
Hai câu thơ trên trích trong bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải, nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc của mình bằng hành động " đưa tay", " hứng" để cảm nhận được "giọt long lanh". "Giọt long lanh" ở đây có thể hiểu theo nhiều nghĩa: giọt sương xuân, giọt mưa xuân,cũng có thể là giọt của tiếng chim chiền chiện, hay là giọt mùa xuân được cô đọng lại. Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa thì đây cũng là biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Để bộc lộ cảm xúc say sưa chiêm ngưỡng trước vẻ đẹp mùa xuân cộng với động từ "hứng" thể hiện thái độ nâng niu, trân trọng của nhà thơ Thanh Hải.
Trích 2:
Câu 4: Phương thức biểu đạt của đoạn trích: Nghị luận
Câu 5 :
Thành phần biệt lập: Chắc chắn (Thành phần tình thái)
II/
Câu 1:
Ai đó đã từng nói rằng: “Sân hận, thù ghét là gánh nặng to lớn nhất có thể đè nén lên tâm hồn của chúng ta”. Trong một xã hội đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân như hiện nay, chúng ta càng phải trân trọng hơn những giá trị của lòng bao dung trong cuộc sống. Bao dung, đó là một việc làm thiêng liêng, khi ta sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm của một ai đó vô điều kiện. Ta làm như thế bởi vì ta muốn người từng phạm phải có một con đường để quay đầu, để hối lỗi và từ đó có một cuộc sống tốt hơn. Không chỉ có vậy, ta bao dung cũng vì chính bản thân ta. Tha thứ cho một ai đó sẽ giúp tâm hồn ta nhẹ nhõm, thanh thản, ta không phải ôm những sân si, thù hận trong lòng mình nữa. Từ đó, cuộc sống của ta sẽ trở nên tích cực và ý nghĩa hơn. Có thể nhắc đến sư cô Giác Lệ Hiếu như một minh chứng tiêu biểu cho lòng khoan dung. Trong suốt quá trình thuyết giảng, sư cô luôn gặp phải những bình luận tiêu cực, thậm chí dùng lời lẽ xúc phạm, tấn công cô. Nhưng sư cô vẫn luôn vui vẻ đón nhận, “cái gì họ nói đúng, thì mình sửa; còn họ nói sai, thì thôi, không sao cả, hãy tha thứ cho họ”. Những người có lòng bao dung luôn đặt mục đích mọi việc làm vì người khác, vì xã hội. Luôn vì lợi ích chung của mọi người. Đặt lợi ích của mọi người lên trên lợi ích cá nhân. Trong công việc tự giác, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, nhận phần khó khăn về mình, không lười biếng, lười nhác. Khi gặp khó khăn biết đứng ra gánh vác trọng trách không sợ thiệt hơn, không so đo, ganh ghét, tính toán,…Lòng bao dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Có được đức hi sinh, tinh thần xả thân, mới chiến thắng được lòng vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân. Lòng bao dung giúp ta sống bình an và thanh thản, thư thái trong tâm hồn. Sống bằng lòng bao dung giúp môi trường sống thân thiện, cuộc sống chung có chất lượng hơn. Lòng bao dung còn có thể cảm hóa được người tha hóa, giúp họ tìm lại được niềm tin vào chính mình và trở lại cuộc sống lương thiện. Lòng bao dung cũng có thể chuyển hóa những hoàn cảnh xấu trở nên tốt đẹp hơn. Bởi đây là lối sống phù hợp với Bao dung không phải là sự dung túng, bao che những việc làm sai trái, những hành vi gây ảnh hưởng đến lợi ích của người khác đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức của xã hội. Không bao dung, rộng lượng một cách mù quáng, chỉ tha thứ cho những ai biết nhận ra sai trái lỗi lầm và làm lại cuộc đời. Chứ không tha thứ cho những người liên tiếp mắc lỗi, liên tiếp phạm lỗi lầm đó đi ngược lại với sự khoan dung ta dành cho họ, họ sẽ ỷ lại và không có giác ngộ, ta chính là người gián tiếp dung túng họ tiếp tục phạm lỗi. Tóm lại, lòng bao dung là một phẩm chất đạo đức cao quý, truyền thống quý báu của dân tộc ta. Lòng bao dung là sự chấp nhận những lỗi lầm mà người khác đã gây ra cho mình, khi đó chúng ta biết tha thứ cho người khác. Chính vì vậy, để cuộc sống tươi đẹp và giàu tình người hơn. Mỗi chúng ta hãy sống một cách chân thành, luôn bao dung và độ lượng, giàu lòng bao dung với những người xung quanh.
Câu 2:
"Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình"
Ấy là những lời thơ mà Ngọc Hân Công chúa viết để ca ngợi người anh hùng Nguyễn Huệ. Hình ảnh vua Quang Trung oai phong, lẫm liệt đã được các tác giả Ngô gia văn phái cũng đã tái hiện chân thực qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh trong hồi thứ mười bốn của “Hoàng Lê nhất thống chí”.
Quang Trung hiện lên là một con người hành động mạnh mẽ quyết đoán. Ngay từ đầu tác phẩm, ông đã hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết. Khi hay tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long, mất cả một vùng rộng lớn, ông không hề nao núng định thân chinh cầm quân đi ngay. Nguyễn Huệ còn làm được biết bao việc lớn như tế cáo trời đất, lên ngôi vua, hành quân đánh giặc… trong vòng một tháng trời. Chỉ vừa mới khởi binh mà ông đã hẹn ngày mừng chiến thắng.
Không chỉ vậy, Quang Trung còn hiện lên với vẻ đẹp trí tuệ. Ông vừa sáng suốt, vừa nhạy bén. Khi quân Thanh hùng hổ xâm chiếm đất nước, tạo nên tình huống khẩn cấp và vận mệnh đất nước bị đặt trên tình thế nguy cấp, ông đã quyết định lên ngôi hoàng đế và đặt niên hiệu là Quang Trung. Việc lên ngôi đã được ông lên kế hoạch kỹ lưỡng với mục đích hội tụ các phái nội bộ, tập hợp những hiền tài và quan trọng hơn là “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “Đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”. Nhờ sự sáng suốt nhận định tình hình địch và ta, Quang Trung đã khích lệ các tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm từ ngàn xưa như Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành,... Chính lời dụ của Quang Trung đã thuyết phục được biết bao người tài. Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người thay lòng đổi dạ nên ông đã có lời với quân lính chí tình đầy nghiêm khắc: “Các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.
Những chuyện xảy ra ở triều đình cũng đều không nằm ngoài sự dự liệu sáng suốt của Quang Trung. Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng Sở và Lân. Do quân ta còn ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Nhờ vây, Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen. Ông còn đánh giá rất cao Ngô Thì Nhậm và sử dụng Nhậm như một vị quân sĩ đa mưu túc trí. Ông cài Ngô thì Nhậm làm việc với Sở và Lân.
Quang Trung còn là người có tầm nhìn xa trông rộng. Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung vẫn chắc nịch như đinh đóng cột. Ông không chỉ tính sẵn phương lược tiến đánh mà còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao. Ông được xem trọng như một vị tướng có tài thao lược hơn người. Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy khiến chúng ta không khỏi kinh ngạc khi vừa hành quân, vừa đánh giặc, thậm chí thực tế còn vượt mức hai ngày. Dù hành quân xa xôi, liên tục như vậy, nhưng nhờ tính kỷ luật, quy định chặt chẽ đối với nghĩa quân, đội quân vẫn chỉnh tề, hành quân triền miên không ngừng.
Vua Quang Trung còn hiện lên với những hành động quyết liệt, mạnh mẽ trong chiến trận. Ông thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa mà với vị trí của một tổng chỉ huy chiến dịch thực sự. Dưới sự lãnh đạo tài tình ông, nghĩa quân Tây Sơn đã có những trận đánh thật đẹp, áp đảo kẻ thù dưới sức mạnh quyết liệt ấy. Trong cảnh khói tỏa mù trời, hình ảnh nhà vua cưỡi voi đi đốc thúc với tấm áo bào đã sạm đen khói súng hiện lên sáng ngời giữa trận mạc. Tất cả những nét đẹp như hội tụ và tỏa sáng giữa chiến trường mù mịt khói súng.
Đoạn trích khắc họa sinh động, ấn tượng hình tượng vua Quang Trung qua ngôn ngữ, hành động, cử chỉ dứt khoát và mạnh mẽ. Bối cảnh chiến trường hùng tráng đã trở thành phông nền hoàn hảo để người anh hùng xuất hiện. Tác giả sử dụng ngôi kể thứ ba làm tăng tính chân thực, khách quan cho câu chuyện.
Các tác giả Ngô gia văn phái với ngòi bút thần của mình đã làm nổi bật hình ảnh vua Quang Trung - một niềm tự hào lớn của cả dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh quật cường của dân tộc ta. Người anh hùng Nguyễn Huệ đã trở thành niềm tự hào của nhân dân muôn đời, biểu tượng cho truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của con người Việt Nam.
Nếu bạn muốn hỏi bài tập
Các câu hỏi của bạn luôn được giải đáp dưới 10 phút
CÂU HỎI LIÊN QUAN
7 phút trước
9 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước