05/08/2024

05/08/2024
05/08/2024
Nghệ thuật là không gian hấp dẫn mọi sở dục trong tiềm thức con người, là mật ngọt khêu gợi những vui buồn hờn tủi trong tâm cảm con người. Nghệ thuật chân chính không chỉ lôi cuốn con người vào vòng xoáy của ngôn từ trong ngòi bút của người nghệ sĩ mà hơn hết còn trao cho con người cái quyền được đắm say, được khát khao, được chung sống trong thế giới đó. Với thơ - một dạng thức đặc biệt của nghệ thuật, thật sự cơn mê lực trong ấy chưa bao giờ thôi âm ỉ, cựa quậy, khắc khứa tâm khảm người đọc. Mỗi bài thơ trác tuyệt là một thế giới nghệ thuật rất riêng, rất “thú” mà ở đó, cái khát vọng của nhà thơ đồng điệu với hoài vọng của người thơ, tôi tự hỏi chính những mê mải trong lõi thái cực siêu hình ấy lôi cuốn con người hay tự con người tìm về với nó? Cái đẹp là thứ thoả mãn con người và bản năng của con người là tìm về cái đẹp. Thơ có cái đẹp không? Có! Thơ có thoả mãn nhu cầu tìm về với cái đẹp của con người không? Dĩ nhiên. Nếu không, tại sao Tagore lại nói: "Hoa gửi lời mời bướm bằng hương thơm, bằng màu sắc khác biệt và âm điệu lời mời thì êm dịu. Lời mời của nhà thơ có sự quyến rũ của tự nhiên"? Như vậy, từ góc nhìn nghệ thuật học, thơ có sức hấp dẫn riêng, là tổng hoà của nhiều yếu tố nghệ thuật.
Bằng lối so sánh giàu hình ảnh, R.Tagore ví sự quyến rũ của thơ với sự quyến rũ của tự nhiên (Hoa quyến rũ bướm bằng hương thơm, màu sắc khác biệt giống như thơ quyến rũ người đọc bằng ngôn từ, hình ảnh, cảm xúc,... Để tạo nên sức quyến rũ đó, ngôn từ, hình ảnh, cảm xúc phải có sự tươi tắn, hồn nhiên, tự nhiên theo một cách riêng biệt nhất.)
Thơ có sự quyến rũ của tự nhiên…Thơ ca trước hết quyến rũ bạn đọc ở nội dung cảm xúc, điều này làm nên đặc tính trữ tình căn cốt của thơ. Tình cảm chính là “hương thơm” của thơ. Đó là tiếng nói nội tâm sâu sắc, mãnh liệt của nhà thơ trước con người và cuộc đời, có khả năng chạm tới cái chung của cõi người tạo nên sự tri âm, đồng cảm... Thơ ca hấp dẫn bạn đọc không chỉ bởi những tình cảm mãnh liệt, những triết lí sâu sắc mà còn bằng vẻ lấp lánh của ngôn từ hình ảnh. Màu sắc khác biệt ở đây là chỉ vẻ đẹp độc đáo của hình thức của thơ. Bởi lẽ thơ ca là loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm điểm tựa. Thơ hấp dẫn bạn đọc bởi thứ ngôn ngữ đặc tuyển và được lạ hóa đem lại những nhận thức bất ngờ, từ đó tạo nên những “khoái cảm thẩm mĩ”... Thơ quyến rũ bạn đọc không phải bằng những lời hô gọi, những khẩu hiệu mà lời mời của thơ bao giờ cũng có âm điệu riêng, có thể sôi nổi nồng nhiệt, có thể dịu nhẹ lắng sâu… Âm điệu là tinh chất của cảm xúc thơ đã được hóa thân vào hình thức của lời. Nó thuộc phần hồn của bài thơ, là phần tinh túy nhất, thần thái nhất của tiếng thơ. "Âm điệu là cỗ xe chở hồn của thi phẩm" (Hoàng Cầm). Nó là sự hòa quyện xuyên thấm giữa yếu tố nội dung và hình thức, là ngữ nghĩa, ngữ âm, nhạc điệu, vần điệu phối hợp với nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật hoàn hảo...Vì thế, 2,0 2,0 2,0 một bài thơ hay phải là sự thống nhất cao độ giữa nội dung (hương thơm) và hình thức (màu sắc)...
Thơ quyến rũ bằng sự hồn nhiên, tự nhiên theo một cách riêng... Thơ là tiếng nói hồn nhiên, chân thật nhất của lòng người. Sự hồn nhiên, chân thực mới khiến thơ có sức rung cảm mạnh mẽ, mãnh liệt. Sự hồn nhiên, chân thực là con đường ngắn nhất để đưa thơ đến thẳng với tâm hồn người đọc. Bởi thế, mỗi thi sĩ cần có một tấm lòng, một nguồn chân cảm. Chừng nào chưa có một tấm lòng, chừng đó chưa thể có nguồn thơ. Chừng nào thơ chưa bật ra từ nguồn chân cảm, chừng ấy thơ còn là kẻ xa lạ với người đọc. Văn chương nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng luôn đòi hỏi sức sáng tạo, cái riêng, cái mới ở người nghệ sĩ và tác phẩm mà họ tạo ra. Cái mới, cái riêng sẽ tạo sức hấp dẫn, sẽ là một đóng góp của nhà thơ cho cuộc đời. Cái mới, cái riêng cũng tạo thành dấu ấn, thành cá tính, thành phong cách của nhà thơ - yếu tố làm nên sự tồn tại của nhà thơ và của thơ.
Với Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy đã cho ta thấy sự quyến rũ từ âm điệu, cảm xúc và ngôn từ. Ngay trong những câu đầu tiên của bài thơ, tác giả đã mở tạo nên một không khí rất thành kính, linh thiêng. Đúng như lời Nguyễn Duy giới thiệu, đó là một buổi giỗ của mẹ ông:
“Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
chân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”.
Có lẽ chưa có nhà thơ nào lại miêu tả một bàn thơ với đầy sự tôn kính, đẹp đẽ đến vậy. Mùi hương hoa huệ, cùng với khói nhang, chân nhanh, đã khiến ông bỗng nhớ tới bóng mẹ nơi trần gian thủa nào.
Đọc câu thơ lên khiến người đọc không có cảm giác sợ sệt với cái chết mà cảm thấy thật xúc động, thấy thật thương thay cho tác giả. Bởi mẹ nhà thơ sớm đã mất. Nên hình ảnh của người mẹ của ông trong ký ức vô cùng mờ mịt. Hình ảnh người mẹ với ông chỉ còn được thông qua những điều về bà ngoại.
Khổ thơ lục bát, giúp người đọc dễ hiểu dễ nhớ. Như một khúc ngâm cho một người thân yêu đã ở bên kia thế giới.
Nếu như khổ 1, nhà thơ thể hiện sự tôn kính với mẹ bằng việc hương khói trên bàn thờ thì ở khổ thứ ông miêu tả cụ thể tới số phận của bà.
“Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầu
rối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”
Mẹ ông cũng như bao người phụ nữ thôn quê khác, đều có số phận như những thân cò lặn lội, tần tảo nuôi con. Mẹ Nguyễn Duy hiện ra trong tâm trí ông là một người phụ nữ ngay cả chiếc yếm đào cũng không có. Cái tấm yếm giản dị nhất mà thường bất kỳ người phụ nữ nào cũng có.
Không những thế, bà thậm chí còn không có được cả niềm vui của việc đội nón quai thao, mà phải đội nón mê. Một loại nón làm từ cây cỏ. Quanh năm bà chỉ biết làm lụng nuôi con cái. Chiếc váy bà mặc cũng chỉ toàn nhuộm bùn nâu. Đã thế, ngoài thời gian ruộng vườn, bà còn tranh thủ bán buôn bầu bí ở chợ. Thật là một người phụ nữ nghèo, lại tất bật nhiều việc.
Đọc bài thơ ta mới thương làm sao những người mẹ lam lũ. Không chỉ mẹ ngày xưa mà ngay cả thời nay, các bà mẹ vẫn luôn chấp nhận cuộc sống khổ cực để mong sao con cái có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thương mẹ, nhà thơ nhớ cả những lời ru của mẹ. “Cái cò… sung chát đào chua…/ câu ca mẹ hát gió đưa về trời/ ta đi trọn kiếp con người/ cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”. Lời ru ấy như nói lên chính cuộc đời của mẹ. Cuộc đời của cái cò, đầy chua cay chat đắng. Dù cho câu hát đó có về trời thì nó mãi ghi trong lòng của tác giả, mãi đậm sâu trong tâm trí của nhà thơ
Với Nguyễn Duy, lời ru ấy không chỉ đơn thuần là lời ru cho con ngủ ngon giấc, mà còn là những lời răn dạy về cuộc đời, về kiếp người.
“Mẹ ru cái lẽ ở đời
sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
bà ru mẹ… mẹ ru con
liệu mai sau các con còn nhớ chăng”
Mỗi lời ru ấy đã nuôi lớn tâm hồn nhà thơ, giúp ông lớn lên biết lẽ sống ở đời. Trong khổ thơ có một câu thật hay và ý nhị: “Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn”. Rất nhiều người con đất Việt đã được nuôi dưỡng trong tiếng hát lời ru, nhưng không phải ai cũng hiểu tầm quan trọng của lời ru tiếng hát như tác giả. Thường người ta xem trọng chất dinh dưỡng, để thấy rõ chiều cao, cân năng. Chứ chẳng ai để ý đến tâm hồn thẩm thấu của đứa trẻ khi nghe mẹ ru, bà hát.
Không những, ở câu thơ tiếp theo, nhà thơ thể hiện nỗi lo lắng khi đến đời con cháu sau này liệu có được nghe những lời ru, có còn nhớ những câu ca đó nữa không. Ông cũng thể hiện niềm tự hào về truyền thống khi bà ru mẹ, xong mẹ ru con. Ông tự hào vì được nghe lời ru da diết mà nhiều ý nghĩa thâm sâu như thế.
Ngoài nỗi nhớ về những lời ru, hình bóng của mẹ, tác giả còn nhớ tới những khoảnh khắc vui chơi ấu thơ bên mẹ. Đó là những đêm hè, đêm thu, hai mẹ con trải chiếu nằm đếm sao. Khi đó mẹ còn kể cho tác giả nghe chuyện về Ngưu Lang – Chức Nữ, chú Cuội, chị Hằng, thằng Bờm.
Ông cũng không quên hình ảnh chiếc quạt mo mà mẹ vẫn dùng để quạt cho mình mát rồi vừa nghêu ngao những khúc ca quen thuộc. Ông cũng không quên những hôm hai mẹ con đi tìm đom đóm, quanh bờ ao. Ôi biết bao là kỷ niệm đẹp đẽ mà tác giả sẽ chẳng bao giờ quên.
“Bao giờ cho tới mùa thu
……
trong leo lẻo những vui buồn xa xôi”
Đến cuối bài độc giả càng thấy rõ nỗi nhớ mẹ, nhớ quê hương da diết của tác giả. Đặc biệt là hình ảnh mẹ nằm chỗ ướt còn nhường con chỗ khô trong những đếm đông giá rét. Còn cả việc mẹ “miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”.
Ngày xưa, chưa có máy xay nên để bón cho con nhỏ ăn, mẹ thường phải nhai nhỏ. Nhai làm sao mà không nuốt hết chất dinh dưỡng vào mình mà vẫn có thể lần lựa được xương ra khỏi cơm cá cho con ăn. Việc đó ngay nay trông thật mất vệ sinh nhưng với ngày xưa thiếu thốn, đó lại là cách tốt nhất để giúp các con ăn no.
“Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương…”
Kết thúc bài thơ vẫn là nỗi nhớ thương dai dẳng, sự tôn kính của tác giả dành cho mẹ. Dù số phận mẹ hẩm hiu, phải sớm lên niết bàn nhưng trong tâm trí ông mẹ vẫn sống mãi. Dù thời gian bên mẹ không nhiều nhưng với ông mẹ cũng như bà, luôn dành cho con tìm yêu vô điều kiện. Đúng là tình cảm gia đình, tình cảm người mẹ dành cho con luôn là thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong mọi thứ tình cảm của con người.
Với nỗi nhớ thương mẹ sâu đậm, nhà thơ Nguyễn Duy đã viết nên một bài thơ làm lay động lòng người. Mỗi câu thơ như là một tiếng khóc mẹ nức nở tự sâu tận đáy lòng của tác giả muốn tỉ tê cùng mẹ. Bất kỳ ai đã từng sống qua gia đoạn chiến tranh nghèo khổ của đất nước sẽ dễ dàng tìm thấy bản thân mình đâu đó trong bài thơ.
Ý kiến của R.Tagore là sự đúc rút trải nghiệm của một đời thơ, đã khái quát được những đặc trưng cơ bản của thơ đem lại cho người đọc một bài học về lao động sáng tạo và tiếp nhân thơ ca. Nhà thơ vừa phải có tình cảm mãnh liệt chân thành vừa phải không ngừng khổ công lao động trên cánh đồng chữ nghĩa. Tiếng thơ phải là sự kết hợp giữa cái tài và cái tâm, lí trí và tình cảm, sự công phu và hồn nhiên...
05/08/2024
Nếu bạn muốn hỏi bài tập
Các câu hỏi của bạn luôn được giải đáp dưới 10 phút
CÂU HỎI LIÊN QUAN