câu 13: Năm 1949, quốc gia ở châu Á đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là Trung Quốc (câu trả lời c). Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập (1949) và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
câu 14: Trong công cuộc cải cách, mở cửa vào tháng 12/1978, Trung Quốc xác định lấy phát triển kinh tế làm trung tâm. Điều này được nêu rõ trong đường lối cải cách mà Trung Quốc đưa ra, với mục tiêu biến đất nước thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh. Do đó, đáp án chính xác cho câu hỏi của bạn là a. kinh tế.
câu 15: Trong 30 năm thực hiện đường lối cải cách (1978 - 2008), Trung Quốc đã đạt được thành tựu sau đây về kinh tế:
d. Là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới.
Trong thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt giá trị 8740,4 tỉ nhân dân tệ, đứng hàng thứ bảy thế giới. Tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 1997 lên tới 325,00 tỉ USD. Đây là những thành tựu lớn về phát triển kinh tế mà Trung Quốc đã đạt được trong thời kỳ cải cách và mở cửa.
bài 5: Quá trình xâm lược và cai trị của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XIX, khi các nước tư bản phương Tây đã thực hiện kế hoạch xâm lược khu vực này. Các quốc gia Đông Nam Á có vị trí địa lí quan trọng và giàu tài nguyên, nên trở thành mục tiêu chính của các nước tư bản phương Tây.
Quá trình xâm lược diễn ra mạnh mẽ và liên tục, với sự lợi dụng của chế độ phong kiến ở Đông Nam Á đang khủng hoảng và suy yếu. Các nước phương Tây đã phân chia xâm lược Đông Nam Á bằng cách thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược. Ví dụ, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin chịu sự thống trị của thực dân Tây Ban Nha, Miến Điện và Mã Lai bị thực dân Anh thôn tính, và ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia trở thành thuộc địa của Pháp.
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở khu vực Đông Nam Á đã nổ ra ngay sau khi thực dân phương Tây xâm lược một cách mạnh mẽ, nhưng các phong trào này đều thất bại vì chưa có đường lối cứu nước đúng đắn. Những nguyên nhân chủ quan và khách quan đã tạo nên bối cảnh cho quá trình xâm lược và cai trị của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á.
câu 1: Từ thế kỉ XVI, các nước phương Tây bắt đầu xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á thông qua hoạt động:
a. Buôn bán và truyền giáo: Các nước phương Tây thực hiện hoạt động buôn bán và truyền giáo để mở rộng ảnh hưởng và kiểm soát vùng lãnh thổ mới.
b. Đầu tư phát triển kinh tế: Các nước phương Tây thường tiến hành đầu tư và phát triển kinh tế trong khu vực Đông Nam Á để tăng cường quyền lực và kiểm soát.
c. Mở rộng giao lưu văn hóa: Việc mở rộng giao lưu văn hóa giúp các nước phương Tây thâm nhập và thay đổi văn hóa truyền thống của khu vực Đông Nam Á.
d. Xây dựng cơ sở hạ tầng: Các nước phương Tây thường xây dựng cơ sở hạ tầng như cảng biển, đường sắt, đường bộ để tối ưu hóa việc vận chuyển hàng hóa và quân sự.
Nhưng để trả lời chính xác cho câu hỏi, cần thêm thông tin về lựa chọn đúng.
câu 2: Tất cả các nước Đông Nam Á, trừ Xiêm (Thái Lan), đã trở thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây vào nửa cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Quá trình xâm lược này diễn ra trong bối cảnh chế độ phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, không phải trong tình hình phát triển mạnh mẽ về kinh tế, ổn định về chính trị và xã hội, hoặc là chế độ phong kiến đang phát triển đỉnh cao. Thực tế, chế độ phong kiến ở Đông Nam Á đang suy thoái và gặp khủng hoảng, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thực dân phương Tây thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược và chiếm đóng thuộc địa.
câu 3: : Giữa thế kỉ XVI, Phi-líp-pin bị thực dân Tây Ban Nha xâm lược và thống trị. Do đó, đáp án là: d. Tây Ban Nha.
câu 4: Cuối thế kỉ XVI, thực dân Hà Lan tiến hành xâm lược quốc gia In-đô-nê-xi-a ở khu vực Đông Nam Á.
câu 5: Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam, Lào và Campuchia đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
câu 6: : Trước chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đều là thuộc địa của thực dân phương Tây. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều phong trào giải phóng dân tộc đã dấy lên và lan nhanh ra khắp châu Á. Cuối những năm 50 thế kỉ XX, phần lớn các nước châu Á đều giành độc lập. Tuy nhiên, nửa sau thế kỉ XX, tình hình châu Á lại không ổn định do xảy ra xung đột về tranh chấp biên giới, lãnh thổ và do xảy ra nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc. Do đó, câu trả lời chính xác cho câu hỏi là: b. thuộc địa của thực dân phương Tây.
câu 7: Sự kiện mà đã mở đầu quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân ở khu vực Đông Nam Á là:
b. Tây Ban Nha xâm lược và thống trị Phi-líp-pin
câu 8: Một trong những chính sách cai trị về kinh tế của thực dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á từ cuối thế kỉ XIX là "a. vơ vét tài nguyên thiên nhiên." Thực dân phương Tây tập trung vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước thuộc địa như đất đai, mỏ khoáng sản, và nguồn lao động rẻ mạt để làm giàu cho chính họ. Điều này góp phần vào việc bóc lột và cai trị kinh tế của các nước Đông Nam Á trong thời kỳ này.
câu 9: . Một trong những chính sách cai trị về văn hoá, xã hội của thực dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á từ cuối thế kỉ XIX là thực hiện chính sách chia để trị. Thực dân phương Tây thi hành chính sách chia rẽ, phân chia các tầng lớp xã hội, tôn giáo, sắc tộc nhằm tạo ra mâu thuẫn, gây mất ổn định và dễ dàng cai trị.
câu 10: Sau các cuộc phát kiến địa lý, tư bản phương Tây đã có hoạt động xâm lược thuộc địa ở Đông Nam Á. Điều này được thể hiện qua việc xâm nhập thị trường và xâm lược thuộc địa, đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp và đầu tư phát triển các khu công nghiệp.