viết 1 bài văn phân tích bài thơ " lấy chồng chung " ( 500-700 chữ ) Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Năm chừng mười hoạ hay chăng chớ, Một tháng đôi lần có cũng không....

thumb up 0
thumb down
Trả lời câu hỏi của huy tran
  • Câu trả lời phải chính xác, đầy đủ dựa trên kiến thức xác thực:
    • ✔ Đối với câu hỏi trắc nghiệm: Đưa đáp án lựa chọn + giải thích lý do chọn đáp án.
    • ✔ Đối với câu hỏi tự luận: Đưa lời giải và đáp án cho câu hỏi.
    • ✔ Đối với câu hỏi trả lời ngắn: Đưa ra đáp án + giải thích lý do.
    • ✔ Chấp nhận sử dụng ảnh do thành viên viết tay, ảnh cần rõ nét, không bị mờ, vỡ ảnh.
  • Sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu.
  • Tránh đưa ra các ý kiến cá nhân mang tính chất chủ quan.
  • Nếu sử dụng thông tin từ nguồn khác, phải trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác.
  • Tuyệt đối không được sao chép các thông tin từ các trang khác, từ AI hoặc chatGPT.
CÂU TRẢ LỜI
avatar
Timi

28/11/2025

Trợ lý học tập AI - Câu trả lời này chỉ mang tính tham khảo

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nổi tiếng của nước ta vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Bà đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Thơ của bà vừa đậm chất trữ tình vừa có tính chất trào phúng. Làm lẽ là một bài thơ Nôm rất tiêu biểu cho lối thơ trào phúng ấy.

Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã thẳng thừng vạch trần bộ mặt xấu xa của người đàn ông trong xã hội phong kiến:

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Hai câu thơ trên đã vẽ nên hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu như người phụ nữ này may mắn được nằm nơi giường cao đệm êm thì người phụ nữ kia phải nằm nơi gấm thêu. Trong khi người này được đắp chăn bông ấm áp thì người kia phải chịu cảnh lạnh lùng. Từ “chém cha” được sử dụng trong câu thơ thứ hai đã thể hiện rõ nét sự căm phẫn, khinh bỉ của Hồ Xuân Hương đối với người đàn ông. Đó là tiếng chửi rủa đầy đanh thép, là tiếng nói của một người phụ nữ bất bình thay cho người phụ nữ.

Tiếp đến, tác giả đã miêu tả chi tiết về cuộc sống của người phụ nữ làm lẽ:

Năm thì mười họa hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không.
Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn mướn không công.

Câu thơ Năm thì mười họa hay chăng chớ đã cho thấy sự thưa thớt, hiếm hoi của những lần vợ chồng chung đụng. Người phụ nữ làm lẽ luôn phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng. Còn khi được gần gũi thì lại giống như là xin xỏ, cầu mong chứ không phải là quyền lợi của mình. Từ “xôi” trong câu Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng được sử dụng rất khéo léo. Nó vừa là chỉ món ăn đặc trưng của người Việt Nam nhưng đồng thời cũng là chỉ sự vất vả, khó khăn mới có được. Nhưng thậm chí xôi lại còn không được nữa. Câu Cầm bằng làm mướn thuê không công đã cho thấy người phụ nữ làm lẽ giống như là người ở, người làm thuê không công. Họ làm lụng, phục dịch cho cả gia đình chồng nhưng nào có được coi trọng.

Hai câu thơ cuối đã bộc lộ rõ nét tâm trạng của người phụ nữ làm lẽ:

Nỗi này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Người phụ nữ làm lẽ đã quá hiểu rõ cuộc sống khắc nghiệt của mình. Họ phải chịu cảnh bất công, thiệt thòi. Thậm chí có khi còn khổ hơn cả những người ở đợ, làm thuê.

Bằng ngòi bút trào phúng bậc thầy, Hồ Xuân Hương đã dựng lên bức tranh về người phụ nữ làm lẽ đầy chân thực. Qua đó, tác giả đã lên án chế độ đa thê tàn ác đã đẩy người phụ nữ vào chỗ bi kịch. Đồng thời, bà cũng thể hiện thái độ đồng cảm, trân trọng đối với người phụ nữ.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
0/5 (0 đánh giá)
thumb up 0
thumb down
0 bình luận
Bình luận
avatar
level icon
anhneko

6 giờ trước

“Lấy chồng chung” là một trong những tiếng nói chân thực và xót xa nhất về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua tám câu thơ giản dị mà da diết, tác giả dân gian đã gửi gắm nỗi đau, nỗi uất ức và cả lời nguyền rủa cho số kiếp hẩm hiu của những người phụ nữ phải chịu cảnh chung chồng, đồng thời bộc lộ khát vọng chính đáng về hạnh phúc lứa đôi.

Ngay hai câu mở đầu, cảm xúc của người phụ nữ đã bộc lộ mạnh mẽ:
“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.”
Hình ảnh đối lập “kẻ đắp chăn bông – kẻ lạnh lùng” diễn tả cực kỳ chân thực sự bất công trong thân phận làm lẽ. Trong khi người vợ cả được yêu chiều, ấm êm thì người vợ lẽ lại cô độc, giá lạnh cả về thể xác lẫn tinh thần. Chữ “chém cha” là lời nguyền mạnh mẽ, thể hiện nỗi căm phẫn tột độ với số phận đầy trái ngang. Câu thơ không chỉ nói nỗi đau riêng của một người phụ nữ mà còn là tiếng kêu thống thiết của biết bao người cùng chung cảnh.

Nỗi tủi cực ấy càng rõ hơn trong hai câu tiếp:
“Năm chừng mười hoạ hay chăng chớ,
Một tháng đôi lần có cũng không.”
Nhịp thơ kéo dài, đong đầy sự ngậm ngùi. Tần suất gặp chồng “năm chừng mười hoạ”, “một tháng đôi lần” cho thấy tình cảnh bị bỏ rơi, bị quên lãng của người làm lẽ. Tình yêu và sự quan tâm – vốn là điều thiêng liêng nhất trong hôn nhân – lại trở nên xa xỉ đối với họ. Sự hờ hững của người chồng được thể hiện bằng ba chữ “có cũng không”, khiến nỗi cô đơn của người phụ nữ càng trở nên thấm thía.

Cay đắng hơn, người phụ nữ nhận ra sự cố gắng níu giữ tình chồng cũng chỉ là vô ích:
“Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn mướn không công.”
“Cố đấm ăn xôi” vốn là thành ngữ chỉ sự nhẫn nhịn để đạt điều mình muốn, nhưng trong hoàn cảnh này, dù cố gắng đến mấy thì “xôi lại hỏng”. Tất cả nỗ lực đều rơi vào vô vọng. Sự ví von “làm mướn không công” càng bộc lộ sự phũ phàng của cuộc đời: người phụ nữ sống bên chồng mà như người ở đợ, hy sinh mà chẳng nhận lại điều gì. Hai câu thơ mang giọng điệu chua chát nhưng cũng đầy tỉnh táo, cho thấy nhận thức sâu sắc của người phụ nữ về bất công và bất lực của bản thân.

Nỗi xót xa ấy được đẩy lên thành tiếng thở dài đầy tiếc nuối trong hai câu cuối:
“Nỗi này ví biết dường này nhỉ,
Thời trước thôi đành ở vậy xong.”
Đây là lời tự trách, nhưng cũng là lời khẳng định khát vọng hạnh phúc chân chính. Nếu biết cuộc đời làm lẽ sẽ khổ nhục đến thế, người phụ nữ thà “ở vậy” còn hơn. Câu thơ giản dị mà chứa đựng tinh thần phản kháng âm thầm, thể hiện ý thức về quyền sống, quyền được yêu thương – điều mà xã hội phong kiến luôn tìm cách chối bỏ.

Toàn bài thơ là tiếng lòng bộc trực, chân thành và da diết. Ngôn ngữ dân gian mộc mạc, giàu hình ảnh, giàu tính khẩu ngữ khiến cảm xúc chân thực hơn, nỗi đau như thấm vào từng câu chữ. Qua đó, ta thấy được thân phận éo le của người phụ nữ trong xã hội cũ: bị ràng buộc bởi lễ giáo, bị tước đoạt quyền hạnh phúc, phải cam chịu kiếp “lấy chồng chung” đầy tủi cực. Đồng thời, bài thơ cũng khẳng định vẻ đẹp tâm hồn họ: biết yêu, biết đau, biết khao khát hạnh phúc và dám lên tiếng cho nỗi khổ của mình.

“Lấy chồng chung” vì thế không chỉ là tiếng khóc cho một kiếp người mà còn là biểu tượng cho cả một lớp người chịu nhiều bất công. Bài thơ khép lại nhưng dư âm về nỗi đau và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ vẫn còn khiến người đọc day dứt mãi.

Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
0/5 (0 đánh giá)
thumb up 0
thumb down
0 bình luận
Bình luận

Nếu bạn muốn hỏi bài tập

Các câu hỏi của bạn luôn được giải đáp dưới 10 phút

Ảnh ads

CÂU HỎI LIÊN QUAN

FQA.vn Nền tảng kết nối cộng đồng hỗ trợ giải bài tập học sinh trong khối K12. Sản phẩm được phát triển bởi CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ GIA ĐÌNH (FTECH CO., LTD)
Điện thoại: 1900636019 Email: info@fqa.vn
location.svg Địa chỉ: Số 21 Ngõ Giếng, Phố Đông Các, Phường Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Tải ứng dụng FQA
Người chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Đào Trường Giang Giấy phép thiết lập MXH số 07/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 05/01/2024
Copyright © 2023 fqa.vn All Rights Reserved