viết bài văn phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều (hay , sáng tạo)

thumb up 0
thumb down
Trả lời câu hỏi của Hương Vi
  • Câu trả lời phải chính xác, đầy đủ dựa trên kiến thức xác thực:
    • ✔ Đối với câu hỏi trắc nghiệm: Đưa đáp án lựa chọn + giải thích lý do chọn đáp án.
    • ✔ Đối với câu hỏi tự luận: Đưa lời giải và đáp án cho câu hỏi.
    • ✔ Đối với câu hỏi trả lời ngắn: Đưa ra đáp án + giải thích lý do.
    • ✔ Chấp nhận sử dụng ảnh do thành viên viết tay, ảnh cần rõ nét, không bị mờ, vỡ ảnh.
  • Sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu.
  • Tránh đưa ra các ý kiến cá nhân mang tính chất chủ quan.
  • Nếu sử dụng thông tin từ nguồn khác, phải trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác.
  • Tuyệt đối không được sao chép các thông tin từ các trang khác, từ AI hoặc chatGPT.
CÂU TRẢ LỜI
avatar
Timi

04/01/2026

Trợ lý học tập AI - Câu trả lời này chỉ mang tính tham khảo

Nguyễn Du tên tự Tố Như, sinh ngày mồng 3 tháng 1 năm (1766) ở kinh thành Thăng Long, là con trai của quan Tham Tụng Hà Tĩnh Nguyễn Nghiễm với bà Trân Thị Tân. Quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình Nguyễn Du vốn dòng dõi quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều vua Lê, chúa Trịnh. Đó là gia đình đại quý tộc, theo Nho học, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha ông là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng 15 năm, mẹ ông là Bà Trần Thị Tần quê Kinh Bắc, xinh đẹp nổi tiếng. Anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản làm quan tới chức Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Nhưng Nguyễn Du may mắn được sinh ra trong một gia đình nền nếp, khuôn phép, có truyền thống yêu thương, trọng nghĩa khí, giàu lòng nhân ái, biết đồng cảm với người nghèo khổ và có tinh thần yêu nước. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Du, trở thành chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm của ông sau này.

Gia đình nguyễn Du giàu truyền thống khoa bảng và yêu thích văn chương. Ông nội là Nguyễn Khiêm, hiệu Nghi Hiên, thi đỗ tiến sĩ, được phong tước hầu nên gọi là Chiêu Liễn Hầu, từng làm chức Tế tửu Quốc Tử Giám, tức Hiệu trưởng trường Hoằng Nguyên. Thời ấy, ông nội và ông ngoại của Nguyễn Du đều là những nhà nho lớn, có ảnh hưởng tới tư tưởng của ông.

Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh; là một nhà nho có học vấn uyên bác, từng thi đỗ tiến sĩ và làm quan tới chức Đại tư đồ (Tể tướng), tương đương với chức Thủ tướng bây giờ. Dưới triều Lê, Nguyễn Nghiễm là một quyền thần có sức mạnh khuynh đảo triều chính. Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, xinh đẹp nổi tiếng. 15 tuổi, bà được gả cho Nguyễn Nghiễm khi ông đang làm quan ở Cao Bằng. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm và là người để lại nhiều ấn tượng sâu đậm nhất trong cuộc đời Nguyễn Du.

Tuổi ấu thơ của Nguyễn Du trải qua nhiều biến động lớn trong gia đình. Năm Nguyễn Du lên 10 tuổi thì mồ côi cha mẹ. Ông ngoại mất, một thời gian sau, bà Trần Thị Tần cũng qua đời. Nguyễn Du phải đến sống với anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy đã hơn ông trên 30 tuổi, bấy giờ đang làm Trấn thủ Sơn Tây).

Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra "Vụ mật án Canh Tý": Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Nguyễn Khản, anh cùng cha khác mẹ của Nguyễn Du, đang làm Trấn thủ Sơn Tây, được thăng chức Thiếu bảo và cử lên làm Thượng thư Bộ Lại để dọn đường nối ngôi chúa. Bất mãn, phe chủ chiến trong hàng ngũ quân lính gồm Quỳnh quận công Hoàng Đình Bảo và Nguyệt Biều bá Hoàng Ngũ Phúc dấy binh làm phản. Phe của Nguyễn Khản bị thất bại, bị khép tội và bị giết. Sau vụ này, Nguyễn Du phải lánh về quê vợ ở Thái Bình.

Đời sống khó khăn, thiếu thốn. Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đậu Tam trường (Tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, Nguyễn Du sống ở Thăng Long trong một căn nhà nhỏ cạnh hồ Hoàn Kiếm. Khi kinh thành thất thủ (năm 1787) gia đình suy sụp, Nguyễn Du phải bán nhà, đem tất cả gia sản quy ra thành tiền mặt nhưng cũng chỉ được 10 lạng bạc. Số bạc ấy cũng nhanh chóng tiêu hết vì phải lo cho 8 miệng ăn trong gia đình.

Sau khi bán nhà ở Thăng Long, Nguyễn Du đưa vợ con về quê ở Hà Tĩnh. Trên đường về, Nguyễn Du bị bệnh nặng, phải nằm lại ở trấn Sơn Nam (nay thuộc Hà Nam) hơn một tháng trời. Vừa khỏi bệnh, ông được lệnh triệu về kinh để nhận chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), một vùng đất trũng, mênh mông rừng tràm và cỏ dại.

Tháng 2 năm 1789, Quang Trung ra Bắc lần thứ hai đánh tan quân Thanh. Nguyễn Du về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh. Năm 1796, Nguyễn Du lần thứ hai ra ứng nghĩa, giúp anh là Nguyễn Đại Lang chiêu mộ nông dân phiêu tán, lập căn cứ chống lại nhà Nguyễn ở vùng núi Nga Sơn (nay thuộc Bỉm Sơn, Thanh Hóa). Nghĩa quân hoạt động khoảng ba năm thì tan rã. Không lâu sau, Nguyễn Du rời bỏ nghĩa quân, quay về quê vợ ở Thái Bình, rồi về sống ở Thăng Long.

Từ năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lập ra triều đình nhà Nguyễn. Nguyễn Du lần lượt được giao giữ các chức vụ: Tri huyện Phù Doãi (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên), tri phủ Thường Tín (Hà Tây), Cai bạ Quảng Bình. Năm 1813, ông được thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Sau khi về nước, ông được thăng Thự Đông các điện học sĩ. Năm 1820, ông được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc lần hai nhưng chưa kịp đi thì ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18-9-1820) ông lâm bệnh và mất đột ngột tại nhà riêng ở kinh thành Huế.

Thi hào Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản văn chương đồ sộ, bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm:

Về văn Nôm, gồm có:
- Văn chiêu hồn
- Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu
- Ba tập thơ: Thanh hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục
- Truyện Kiều
- Văn tế thập loại chúng sinh

Về văn chữ Hán, gồm có:
- Thanh Hiên thi tập
- Nam trung tạp ngâm
- Bắc hành tạp lục
- Vận văn
- Ứng đáp
- Thơ thảo
- Thơ tụng
- Thơ dịch

Trong số đó, Truyện Kiều là kiệt tác số một của nền văn học cổ điển Việt Nam, từ ngữ trong sáng, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc, nội dung phản ánh sâu sắc bản chất tàn bạo của chế độ xã hội phong kiến, đề cao quyền sống con người, ước mơ về một xã hội công bằng, dân chủ, no ấm, hạnh phúc. Đoạn trích Chị em Thuý Kiều nằm ở phần mở đầu của Truyện Kiều, kể về hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân.

Trước tiên, bốn câu thơ đầu giới thiệu khái quát về hai chị em nhà Kiều:

"Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười."

Hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân được tác giả giới thiệu là con đầu lòng của gia đình họ Vương, trong đó Thuý Kiều là chị còn Thuý Vân là em. Hai người đều là những cô gái đẹp "tố nga", tức là kiểu mẫu của cái đẹp trong xã hội xưa, mang dáng vẻ thanh mảnh, yểu điệu, mềm mại. Cả hai đều có vẻ đẹp hoàn hảo, khiến cho mọi người ngưỡng mộ.

Bốn câu tiếp theo miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân:

"Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da."

Câu thơ đầu tiên đã khái quát đặc điểm chung của nhân vật Thuý Vân: "trang trọng khác vời", tức là vẻ đẹp cao sang, quý phái, vượt trội hơn người. Tác giả sử dụng hình ảnh ước lệ, tượng trưng như "khuôn trăng", "nét ngài", "hoa", "ngọc", "mây", "tuyết" để miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân. Khuôn mặt nàng tròn đầy như mặt trăng đêm rằm, đôi lông mày đen rậm như bướm tằm, nụ cười rạng rỡ như hoa hàm tiếu, giọng nói trong trẻo như tiếng ngọc. Mái tóc nàng đen mượt hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết. Tất cả tạo nên vẻ đẹp hài hoà, cân đối, thanh tao, dịu dàng, phúc hậu của Thuý Vân.

Bốn câu cuối cùng miêu tả vẻ đẹp của Thuý Kiều:

"Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh."

Khác với Thuý Vân, Thuý Kiều được miêu tả là một người phụ nữ sắc sảo, mặn mà, tài sắc vẹn toàn. Nàng có đôi mắt trong veo như nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như núi mùa xuân. Đôi mắt ấy là cửa sổ tâm hồn, thể hiện sự thông minh, nhạy bén của nàng. Nét mày ngài thanh tú, kiêu sa, khiến cho hoa phải ghen, liễu phải hờn.

Không chỉ có nhan sắc tuyệt trần, Thuý Kiều còn là một người phụ nữ tài năng. Nàng giỏi cầm, kì, thi, hoạ, đặc biệt là tài đàn. Tiếng đàn của nàng réo rắt, du dương, khiến cho người nghe như lạc vào cõi tiên.

Như vậy, bốn câu thơ cuối đã khắc họa thành công vẻ đẹp của Thuý Kiều, một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà, tài sắc vẹn toàn.

Đoạn trích Chị em Thuý Kiều đã thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du trong việc miêu tả nhân vật. Tác giả đã sử dụng bút pháp ước lệ, tượng trưng, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, biểu cảm, góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều.

Đoạn trích Chị em Thuý Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất trong Truyện Kiều, thể hiện tài năng nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du. Đoạn trích đã khắc họa thành công vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều, một vẻ đẹp hoàn hảo, khiến cho người đọc không khỏi ngưỡng mộ.

Qua đoạn trích, ta thấy được tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ của Nguyễn Du. Đồng thời, đoạn trích cũng thể hiện niềm xót xa, tiếc nuối của tác giả trước số phận bất hạnh của Thuý Kiều.
Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
0/5 (0 đánh giá)
thumb up 0
thumb down
0 bình luận
Bình luận
avatar
level icon
brotherhehe

04/01/2026

   Nguyễn Du là một thiên tài văn học và ông được coi là Đại thi hào văn hóa của Việt Nam. Cả cuộc đời cầm bút, ông đã để lại rất nhiều những tác phẩm có giá trị, trong đó tiêu biểu có "Đoạn trường tân thanh" mà người Việt quen gọi nôm là "Truyện Kiều". Trong chương trình Ngữ văn 9, tập 1, có đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" trích "Truyện Kiều", là một trong những đoạn trích hay, độc đáo, thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả, khắc họa chân dung con người của Nguyễn Du, góp phần làm nên thành công của tác phẩm.

   Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều.

   Trước hết, bốn câu thơ mở đầu là lời giới thiệu khái quát về hai chị em Kiều - Vân:

   "Đầu lòng hai ả tố nga,

   Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

   Mai cốt cách tuyết tinh thần,

   Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười"

   Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ, ẩn dụ để giới thiệu khái quát về hai chị em qua rất nhiều bình diện như: lai lịch, vị trí trong gia đình và vẻ đẹp (riêng – chung) của hai chị em. Họ là hai người con gái đầu lòng của gia đình họ Vương, trong đó Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Tuy hai chị em có những vẻ đẹp khác nhau nhưng chị em Kiều đều mang chung vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng: ngoại hình thì thanh tao như cây mai; phong thái tinh thần thì trong trắng như tuyết (tâm hồn). Đó là vẻ đẹp hoàn mĩ, toàn diện từ trong ra ngoài, từ dáng vẻ tới tâm hồn "mười phân vẹn mười". Như vậy, chỉ bằng bốn câu thơ đầu ngắn gọn, tác giả đã khái quát được những thông tin cần thiết của nhân vật, đồng thời làm nổi bật lên vẻ đẹp riêng – chung của hai chị em. Từ đó, định hướng cảm xúc cho toàn bài, giúp người đọc thấy được cảm hứng ngợi ca con người trong đoạn thơ.

   Đến bốn câu thơ tiếp, Nguyễn Du phóng bút đi vào những nét vẽ cụ thể về chân dung và vẻ đẹp nhân vật Thúy Vân:

   Vân xem trang trọng khác vời

   Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

   Hoa cười ngọc thốt đoan trang

   Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.


   Ngay câu thơ đầu, nhà thơ đã khái quát vẻ đẹp phong thái của Vân bằng hai chữ “trang trọng”. Đó là vẻ đẹp cao sang, quí phái, ung dung và nghiêm chỉnh. Tiếp tục sử dụng lối ước lệ, nhà thơ đã ví nhan sắc của Vân với những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên, vũ trụ như: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Có thể nói, dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, chân dung vẻ đẹp của Vân hiện lên lộng lẫy, toàn diện từ khuôn mặt, nét mày ngài, nụ cười cho đến lời nói, mái tóc, làn da. Tất cả đều hiện lên sống động, cụ thể như hiện hình, nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Đó là chân dung người thiếu nữ có khuôn mặt tròn đầy phúc hậu như ánh trăng đêm rằm; đôi lông mày thanh tú, sắc nét như con ngài (mắt phượng mày ngài); miệng cười thì tươi tắn như hoa nở; tiếng nói khi thốt ra thì trong trẻo, ngọc ngà; mái tóc đen óng ả hơn cả mây; làn da trắng mịn màng hơn cả tuyết. Chính vẻ đẹp bên ngoài của Vân với vẻ đẹp phúc hậu, hài hòa trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến nên được thiên nhiên, tạo hóa chấp nhận: “tuyết nhường” ,”mây thua". Từ đó, giúp người đọc phần nào thấy được tính cách và số phận của nhân vật: tính cách ung dung, điềm đạm; cuộc đời: bình yên không sóng gió.

   Sau khi dựng lên chân dung và vẻ đẹp nhân vật Thúy Vân, nhà thơ tập trung bút lực vào miêu tả vẻ đẹp của Kiều trong sự đối sánh với vẻ đẹp của Vân:

   Kiều càng sắc sảo mặn mà

   So bề tài sắc lại là phần hơn

   Vẻ đẹp của Kiều khác và hơn hẳn Vân cả về tài lẫn sắc. Đó là sự "sắc sảo" về trí tuệ; "mặn mà" về tầm hồn.

   Trước hết là vẻ đẹp nhan sắc – ngoại hình của Kiều. Vẫn tiếp tục sử dụng thủ pháp ước lệ tượng trưng lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm thước đo cho vẻ đẹp của con người qua một loạt các hình ảnh: thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu, Nguyễn Du đã làm hiện vẻ đẹp của một trang giai nhân tuyệt mĩ. Nhưng khi miêu tả Kiều, tác giả không miêu tả cụ thể chi tiết như ở Vân mà ngược lại, tác giả tập trung vào một điểm nhìn là đôi mắt “Làn thu thủy nét xuân sơn”: Đôi mắt sáng trong và sâu thẳm như làn nước mùa thu; đôi lông mày thanh thoát như nét núi mùa xuân. Đây chính là lối vẽ "điểm nhãn" cho nhân vật. Bởi đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn con người. Và qua đôi mắt đó của Kiều, ta thấy được tâm hồn trong sáng, sâu thẳm và cuốn hút lạ thường của nhân vật. Vẻ đẹp nhan sắc của Kiều là vẻ đẹp vượt ra khỏi chuẩn mực của tự nhiên và khuôn khổ của người phụ nữ phong kiến nên: “Hoa ghen – liễu hờn” và thậm chí là nghiêng ngả cả thành quách, đất nước:

   Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

   Một hai nghiêng nước nghiêng thành

  Nghệ thuật nhân hóa (hoa ghen – liễu hờn) kết hợp với nghệ thuật nói quá (thành ngữ: Nghiêng nước nghiêng thành) vừa có tác dụng gợi tả vẻ đẹp của Kiều ; lại vừa có tác dụng dự đoán về số phận, cuộc đời của nàng. Bởi vẻ đẹp đó gợi lên mâu thuẫn, không hài hòa (khác với Vân: thua – nhường: hài hòa, bình yên) nên chắc chắn cuộc đời nàng sẽ truân chuyên, trắc trở: “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

  Tiếp đến là vẻ đẹp tài năng của Kiều. Nếu như khi tả Vân, nhà thơ chỉ chú trọng vào khắc họa vẻ đẹp nhan sắc mà không chú trọng tới miêu tả tài năng và tâm hồn thì khi tả Kiều, nhà thơ chỉ tả sắc một phần, còn lại dành phần nhiều vào tài năng:

   Sắc đành đòi một tài đành họa hai

   Chỉ một câu thơ mà nhà thơ đã nêu được cả sắc lẫn tài. Nếu như về sắc thì Kiều là số một thì về tài không ai dám đứng hàng thứ hai trước nàng. Tài năng của Kiều có thể nói là có một chứ không có hai trên đời. Vì được trời phú cho tính thông minh nên ở lĩnh vực nghệ thuật nào Kiều cũng toàn tài: cầm – kì – thi – họa. Tất cả đều đạt đến mức lí tưởng hóa theo quan niệm thẩm mĩ của lễ giáo phong kiến: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”. Đặc biệt tài năng của Kiều được nhấn mạnh ở tài đàn: “Cung thương lầu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”: nàng thuộc lòng các cung bậc và đánh đàn Hồ cầm (đàn cổ) thành thạo. Hơn thế, nàng còn giỏi sáng tác nhạc nữa: “Khúc nhà tay lựa nên chương/Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Mỗi nàng lần đánh đàn, nàng lại cất lên bài hát “Bạc mệnh” làm cho người nghe phải đau khổ, sầu não. Bài hát chính là tâm hồn, là bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều, biểu hiện một trái tim đa sầu đa cảm và cuộc đời éo le, bất hạnh.

   Tóm lại: Chân dung của Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận. Vẻ đẹp của Kiều là vẻ đẹp khác người nên làm cho thiên nhiên phải ghen tị “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”; tài năng của Kiều vượt trội hơn người nên chắc chắn theo một qui luật thông thường của định mệnh “Chữ tài đi với chữ tai một vần” hay “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” nên cuộc đời Kiều là cuộc đời của một kiếp hồng nhan bạc mệnh, éo le và nghiệt ngã.


   Đến đây chúng ta thấy được tài năng độc đáo của Nguyễn Du trong việc khắc họa chân dung nhân vật. Từ vẻ đẹp chân dung, nhà thơ thể hiện những dự cảm về tính cách, cuộc đời, số phận của nhân vật. Và mặc dù, ở đầu đoạn trích, tác giả giới thiệu Thúy kiều là chị, em là Thúy Vân nhưng sau đó, nhà thơ lại miêu tả chân dung nhân vật Vân trước, Kiều sau. Đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ trong việc tạo ra thủ pháp "đòn bẩy". Điều đó có tác dụng nhấn mạnh và làm nổi bật được vẻ đẹp độc đáo, vượt trội về cả sắc lẫn tài và tình của nhân vật Thúy Kiều. Vì thế, tuy cùng sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng khi miêu tả hai nhân vật nhưng chúng ta thấy được mức độ đậm nhạt khác nhau ở mỗi người. Nhà thơ chỉ dùng bốn câu để tả Vân, còn lại dành tận mười hai câu để tả Kiều; tác giả khi tả Vân chỉ tập trung tả nhan sắc nhưng khi tả Kiều thì "sắc đành đòi một, tài đành họa hai". Mặc dù vậy nhưng ở nhân vật nào cũng hiện lên rất sống động, cụ thể, chân thực, mang vẻ đẹp, tính cách, số phận khác nhau.

   Bốn câu thơ cuối là lời bình của tác giả về cuộc sống của hai chị em Thúy Kiều:

   Phong lưu rất mực hồng quần

   Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

   Êm đềm trướng rủ màn che

   Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

   Sau khi dựng lên bức chân dung của hai chị em Kiều – Vân, Nguyên Du đưa ra những lời nhận xét chung về cuộc sống của hai người. Họ sống trong một gia đình phong lưu, rất gia giáo và họ đang sống trong tầm tuổi sắp sửa được phép thành lập gia đình. Thành ngữ “Trướng rủ màn che” để chỉ một lối sống kín đáo, đây là lối sống của tiểu thư con nhà gia giáo, sống trong bốn bức tường, ít khi giao tiếp bên ngoài để học nữ công gia tránh rất la khuôn phép. Hình ảnh “ong bướm” là hình ảnh ẩn dụ để chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ không có mục đích tốt đẹp. Và với những loại người ấy, hai chị em Kiều không thèm để ý tới.

   Tóm lại, bằng bút pháp ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, Nguyễn Du đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân dung hai chị em Vân – Kiều. Qua đó, chúng ta thấy được cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp, tài năng con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh đầy nhân văn ở Nguyễn Du.

Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
0/5 (0 đánh giá)
thumb up 0
thumb down
0 bình luận
Bình luận
avatar
level icon
TrinhThu

04/01/2026

   Nguyễn Du là một thiên tài văn học và ông được coi là Đại thi hào văn hóa của Việt Nam. Cả cuộc đời cầm bút, ông đã để lại rất nhiều những tác phẩm có giá trị, trong đó tiêu biểu có "Đoạn trường tân thanh" mà người Việt quen gọi nôm là "Truyện Kiều". Trong chương trình Ngữ văn 9, tập 1, có đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" trích "Truyện Kiều", là một trong những đoạn trích hay, độc đáo, thể hiện tài năng nghệ thuật miêu tả, khắc họa chân dung con người của Nguyễn Du, góp phần làm nên thành công của tác phẩm.

   Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều.

   Trước hết, bốn câu thơ mở đầu là lời giới thiệu khái quát về hai chị em Kiều - Vân:

   "Đầu lòng hai ả tố nga,

   Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân

   Mai cốt cách tuyết tinh thần,

   Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười"

   Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ, ẩn dụ để giới thiệu khái quát về hai chị em qua rất nhiều bình diện như: lai lịch, vị trí trong gia đình và vẻ đẹp (riêng – chung) của hai chị em. Họ là hai người con gái đầu lòng của gia đình họ Vương, trong đó Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. Tuy hai chị em có những vẻ đẹp khác nhau nhưng chị em Kiều đều mang chung vẻ đẹp duyên dáng, thanh cao, trong trắng: ngoại hình thì thanh tao như cây mai; phong thái tinh thần thì trong trắng như tuyết (tâm hồn). Đó là vẻ đẹp hoàn mĩ, toàn diện từ trong ra ngoài, từ dáng vẻ tới tâm hồn "mười phân vẹn mười". Như vậy, chỉ bằng bốn câu thơ đầu ngắn gọn, tác giả đã khái quát được những thông tin cần thiết của nhân vật, đồng thời làm nổi bật lên vẻ đẹp riêng – chung của hai chị em. Từ đó, định hướng cảm xúc cho toàn bài, giúp người đọc thấy được cảm hứng ngợi ca con người trong đoạn thơ.

   Đến bốn câu thơ tiếp, Nguyễn Du phóng bút đi vào những nét vẽ cụ thể về chân dung và vẻ đẹp nhân vật Thúy Vân:

   Vân xem trang trọng khác vời

   Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

   Hoa cười ngọc thốt đoan trang

   Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.


   Ngay câu thơ đầu, nhà thơ đã khái quát vẻ đẹp phong thái của Vân bằng hai chữ “trang trọng”. Đó là vẻ đẹp cao sang, quí phái, ung dung và nghiêm chỉnh. Tiếp tục sử dụng lối ước lệ, nhà thơ đã ví nhan sắc của Vân với những hình ảnh đẹp nhất của thiên nhiên, vũ trụ như: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Có thể nói, dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du, chân dung vẻ đẹp của Vân hiện lên lộng lẫy, toàn diện từ khuôn mặt, nét mày ngài, nụ cười cho đến lời nói, mái tóc, làn da. Tất cả đều hiện lên sống động, cụ thể như hiện hình, nổi sắc trước mắt người đọc vậy. Đó là chân dung người thiếu nữ có khuôn mặt tròn đầy phúc hậu như ánh trăng đêm rằm; đôi lông mày thanh tú, sắc nét như con ngài (mắt phượng mày ngài); miệng cười thì tươi tắn như hoa nở; tiếng nói khi thốt ra thì trong trẻo, ngọc ngà; mái tóc đen óng ả hơn cả mây; làn da trắng mịn màng hơn cả tuyết. Chính vẻ đẹp bên ngoài của Vân với vẻ đẹp phúc hậu, hài hòa trong khuôn khổ của lễ giáo phong kiến nên được thiên nhiên, tạo hóa chấp nhận: “tuyết nhường” ,”mây thua". Từ đó, giúp người đọc phần nào thấy được tính cách và số phận của nhân vật: tính cách ung dung, điềm đạm; cuộc đời: bình yên không sóng gió.

   Sau khi dựng lên chân dung và vẻ đẹp nhân vật Thúy Vân, nhà thơ tập trung bút lực vào miêu tả vẻ đẹp của Kiều trong sự đối sánh với vẻ đẹp của Vân:

   Kiều càng sắc sảo mặn mà

   So bề tài sắc lại là phần hơn

   Vẻ đẹp của Kiều khác và hơn hẳn Vân cả về tài lẫn sắc. Đó là sự "sắc sảo" về trí tuệ; "mặn mà" về tầm hồn.

   Trước hết là vẻ đẹp nhan sắc – ngoại hình của Kiều. Vẫn tiếp tục sử dụng thủ pháp ước lệ tượng trưng lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm thước đo cho vẻ đẹp của con người qua một loạt các hình ảnh: thu thủy, xuân sơn, hoa, liễu, Nguyễn Du đã làm hiện vẻ đẹp của một trang giai nhân tuyệt mĩ. Nhưng khi miêu tả Kiều, tác giả không miêu tả cụ thể chi tiết như ở Vân mà ngược lại, tác giả tập trung vào một điểm nhìn là đôi mắt “Làn thu thủy nét xuân sơn”: Đôi mắt sáng trong và sâu thẳm như làn nước mùa thu; đôi lông mày thanh thoát như nét núi mùa xuân. Đây chính là lối vẽ "điểm nhãn" cho nhân vật. Bởi đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn con người. Và qua đôi mắt đó của Kiều, ta thấy được tâm hồn trong sáng, sâu thẳm và cuốn hút lạ thường của nhân vật. Vẻ đẹp nhan sắc của Kiều là vẻ đẹp vượt ra khỏi chuẩn mực của tự nhiên và khuôn khổ của người phụ nữ phong kiến nên: “Hoa ghen – liễu hờn” và thậm chí là nghiêng ngả cả thành quách, đất nước:

   Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

   Một hai nghiêng nước nghiêng thành

  Nghệ thuật nhân hóa (hoa ghen – liễu hờn) kết hợp với nghệ thuật nói quá (thành ngữ: Nghiêng nước nghiêng thành) vừa có tác dụng gợi tả vẻ đẹp của Kiều ; lại vừa có tác dụng dự đoán về số phận, cuộc đời của nàng. Bởi vẻ đẹp đó gợi lên mâu thuẫn, không hài hòa (khác với Vân: thua – nhường: hài hòa, bình yên) nên chắc chắn cuộc đời nàng sẽ truân chuyên, trắc trở: “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần".

  Tiếp đến là vẻ đẹp tài năng của Kiều. Nếu như khi tả Vân, nhà thơ chỉ chú trọng vào khắc họa vẻ đẹp nhan sắc mà không chú trọng tới miêu tả tài năng và tâm hồn thì khi tả Kiều, nhà thơ chỉ tả sắc một phần, còn lại dành phần nhiều vào tài năng:

   Sắc đành đòi một tài đành họa hai

   Chỉ một câu thơ mà nhà thơ đã nêu được cả sắc lẫn tài. Nếu như về sắc thì Kiều là số một thì về tài không ai dám đứng hàng thứ hai trước nàng. Tài năng của Kiều có thể nói là có một chứ không có hai trên đời. Vì được trời phú cho tính thông minh nên ở lĩnh vực nghệ thuật nào Kiều cũng toàn tài: cầm – kì – thi – họa. Tất cả đều đạt đến mức lí tưởng hóa theo quan niệm thẩm mĩ của lễ giáo phong kiến: “Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”. Đặc biệt tài năng của Kiều được nhấn mạnh ở tài đàn: “Cung thương lầu bậc ngũ âm/ Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”: nàng thuộc lòng các cung bậc và đánh đàn Hồ cầm (đàn cổ) thành thạo. Hơn thế, nàng còn giỏi sáng tác nhạc nữa: “Khúc nhà tay lựa nên chương/Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Mỗi nàng lần đánh đàn, nàng lại cất lên bài hát “Bạc mệnh” làm cho người nghe phải đau khổ, sầu não. Bài hát chính là tâm hồn, là bản đàn theo suốt cuộc đời Kiều, biểu hiện một trái tim đa sầu đa cảm và cuộc đời éo le, bất hạnh.

   Tóm lại: Chân dung của Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận. Vẻ đẹp của Kiều là vẻ đẹp khác người nên làm cho thiên nhiên phải ghen tị “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”; tài năng của Kiều vượt trội hơn người nên chắc chắn theo một qui luật thông thường của định mệnh “Chữ tài đi với chữ tai một vần” hay “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” nên cuộc đời Kiều là cuộc đời của một kiếp hồng nhan bạc mệnh, éo le và nghiệt ngã.


   Đến đây chúng ta thấy được tài năng độc đáo của Nguyễn Du trong việc khắc họa chân dung nhân vật. Từ vẻ đẹp chân dung, nhà thơ thể hiện những dự cảm về tính cách, cuộc đời, số phận của nhân vật. Và mặc dù, ở đầu đoạn trích, tác giả giới thiệu Thúy kiều là chị, em là Thúy Vân nhưng sau đó, nhà thơ lại miêu tả chân dung nhân vật Vân trước, Kiều sau. Đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ trong việc tạo ra thủ pháp "đòn bẩy". Điều đó có tác dụng nhấn mạnh và làm nổi bật được vẻ đẹp độc đáo, vượt trội về cả sắc lẫn tài và tình của nhân vật Thúy Kiều. Vì thế, tuy cùng sử dụng nghệ thuật ước lệ tượng trưng khi miêu tả hai nhân vật nhưng chúng ta thấy được mức độ đậm nhạt khác nhau ở mỗi người. Nhà thơ chỉ dùng bốn câu để tả Vân, còn lại dành tận mười hai câu để tả Kiều; tác giả khi tả Vân chỉ tập trung tả nhan sắc nhưng khi tả Kiều thì "sắc đành đòi một, tài đành họa hai". Mặc dù vậy nhưng ở nhân vật nào cũng hiện lên rất sống động, cụ thể, chân thực, mang vẻ đẹp, tính cách, số phận khác nhau.

   Bốn câu thơ cuối là lời bình của tác giả về cuộc sống của hai chị em Thúy Kiều:

   Phong lưu rất mực hồng quần

   Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

   Êm đềm trướng rủ màn che

   Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

   Sau khi dựng lên bức chân dung của hai chị em Kiều – Vân, Nguyên Du đưa ra những lời nhận xét chung về cuộc sống của hai người. Họ sống trong một gia đình phong lưu, rất gia giáo và họ đang sống trong tầm tuổi sắp sửa được phép thành lập gia đình. Thành ngữ “Trướng rủ màn che” để chỉ một lối sống kín đáo, đây là lối sống của tiểu thư con nhà gia giáo, sống trong bốn bức tường, ít khi giao tiếp bên ngoài để học nữ công gia tránh rất la khuôn phép. Hình ảnh “ong bướm” là hình ảnh ẩn dụ để chỉ những người đàn ông tán tỉnh phụ nữ không có mục đích tốt đẹp. Và với những loại người ấy, hai chị em Kiều không thèm để ý tới.

   Tóm lại, bằng bút pháp ước lệ, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, Nguyễn Du đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân dung hai chị em Vân – Kiều. Qua đó, chúng ta thấy được cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp, tài năng con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh đầy nhân văn ở Nguyễn Du.

Hãy giúp mọi người biết câu trả lời này thế nào?
0/5 (0 đánh giá)
thumb up 0
thumb down
0 bình luận
Bình luận

Nếu bạn muốn hỏi bài tập

Các câu hỏi của bạn luôn được giải đáp dưới 10 phút

Ảnh ads

CÂU HỎI LIÊN QUAN

FQA.vn Nền tảng kết nối cộng đồng hỗ trợ giải bài tập học sinh trong khối K12. Sản phẩm được phát triển bởi CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ GIA ĐÌNH (FTECH CO., LTD)
Điện thoại: 1900636019 Email: info@fqa.vn
location.svg Địa chỉ: Số 21 Ngõ Giếng, Phố Đông Các, Phường Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Tải ứng dụng FQA
Người chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Đào Trường Giang Giấy phép thiết lập MXH số 07/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 05/01/2024
Copyright © 2023 fqa.vn All Rights Reserved