

05/01/2026
05/01/2026
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người đã để lại cho văn học Việt Nam kiệt tác Truyện Kiều – tác phẩm kết tinh giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Trong dòng chảy đầy bi kịch của cuộc đời Thúy Kiều, đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích giữ một vị trí đặc biệt khi khắc họa sâu sắc nỗi cô đơn, tủi phận và bi kịch tinh thần của nhân vật chính. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế cùng nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy, Nguyễn Du đã làm hiện lên một Thúy Kiều đáng thương, đáng trân trọng – người con gái tài sắc nhưng số phận éo le giữa dòng đời nghiệt ngã.
Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa bán, bị Tú Bà đánh đập, Kiều buộc phải sống những ngày cô độc nơi lầu Ngưng Bích – một không gian vừa cao rộng vừa lạnh lẽo. Sáu câu thơ đầu đã khắc họa rõ nét hoàn cảnh ấy:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia…
Không gian được mở ra theo chiều rộng và chiều cao, nhưng càng mở ra bao nhiêu thì con người lại càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi bấy nhiêu. Cụm từ “khóa xuân” vừa gợi cảnh bị giam lỏng, vừa ngầm báo hiệu tuổi xuân của Kiều đang bị vùi dập. Trước mắt nàng là cảnh “non xa”, “trăng gần”, “bốn bề bát ngát” – thiên nhiên rộng lớn nhưng không hề mang lại sự tự do, trái lại càng làm nổi bật nỗi cô độc đến tận cùng.
Thời gian trôi qua chậm chạp, đơn điệu:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Nhịp sống chỉ xoay quanh “mây sớm – đèn khuya”, lặp đi lặp lại một cách mỏi mòn. Từ láy “bẽ bàng” diễn tả nỗi tủi hổ, đau đớn khi Kiều ý thức rõ thân phận mình. Trong hoàn cảnh ấy, cảnh và tình hòa quyện, chia sẻ, đồng cảm với nhau, thể hiện rõ nỗi đau tinh thần sâu sắc của nhân vật.
Trong nỗi cô đơn tuyệt đối, Thúy Kiều hướng tâm hồn mình về những người thân yêu nhất. Trước hết là nỗi nhớ Kim Trọng – mối tình đầu trong sáng, sâu nặng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Từ “tưởng” cho thấy Kim Trọng luôn hiện hữu trong tâm trí Kiều. Nàng day dứt vì lời thề nguyền chưa trọn, xót xa khi nghĩ đến người yêu đang mòn mỏi đợi chờ. Hình ảnh “tấm son” là biểu tượng cho lòng thủy chung, son sắt – dù hoàn cảnh nghiệt ngã đến đâu, Kiều vẫn giữ trọn tình yêu và nhân cách cao đẹp.
Sau nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ cha mẹ – biểu hiện rõ nét của tấm lòng hiếu thảo:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Những câu thơ chan chứa yêu thương và lo lắng. Kiều thương cha mẹ tuổi già, sớm hôm tựa cửa trông con. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” thể hiện nỗi đau day dứt vì không thể làm tròn đạo hiếu. Dù bản thân đang rơi vào cảnh khốn cùng, Kiều vẫn đặt nỗi lo cho người khác lên trên chính mình – điều đó càng làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của nàng.
Tám câu thơ cuối là đoạn đặc sắc nhất của đoạn trích, thể hiện rõ tài năng tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại bốn lần, mỗi lần mở ra một cảnh sắc khác nhau, tương ứng với những cung bậc cảm xúc trong lòng Kiều:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa…
Hình ảnh cánh buồm nhỏ nhoi giữa biển chiều gợi nỗi buồn chia lìa, khát vọng được trở về nhưng vô vọng. Không gian mênh mông càng làm nổi bật thân phận bơ vơ của Kiều.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Hoa trôi vô định chính là ẩn dụ cho cuộc đời Kiều – lênh đênh, không biết sẽ trôi dạt về đâu. Nỗi lo âu về tương lai hiện lên đầy ám ảnh.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Màu xanh kéo dài đến vô tận nhưng lại gợi sự tẻ nhạt, vô vọng. Cảnh vật không còn sức sống, phản chiếu tâm trạng mỏi mòn, bế tắc của nhân vật.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Âm thanh dữ dội của sóng gió như dự báo những tai ương sắp ập đến cuộc đời Kiều. Từ nỗi buồn man mác, tâm trạng chuyển sang hoảng sợ, bất an – một dự cảm đau thương về số phận long đong phía trước.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là minh chứng tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du. Ông đã vận dụng xuất sắc bút pháp tả cảnh ngụ tình, lấy thiên nhiên để diễn tả nội tâm nhân vật. Ngôn ngữ thơ giàu giá trị biểu cảm, hình ảnh mang tính ước lệ mà vẫn rất gần gũi. Kết cấu chặt chẽ, cảm xúc phát triển theo chiều sâu tâm trạng, giúp người đọc cảm nhận rõ nỗi đau tinh thần của Thúy Kiều. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật đạt đến đỉnh cao, khiến Kiều hiện lên vừa đáng thương vừa đáng trân trọng.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã khắc họa thành công bức tranh tâm trạng đầy bi kịch của Thúy Kiều trong những ngày cô đơn, tuyệt vọng nhất của cuộc đời. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến, mà còn khẳng định giá trị nhân đạo cao cả của Truyện Kiều. Đoạn trích để lại trong lòng người đọc niềm cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn Thúy Kiều và càng thêm trân trọng tài năng, tấm lòng của đại thi hào Nguyễn Du.
05/01/2026
Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Nguyễn Du đã đạt đến tình cao trong lịch sử với đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, miêu tả thành công nỗi cô đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm trong phần Gia biến và lưu lạc. Đoạn thơ dài 22 câu không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với số phận người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh mà còn thể hiện bút pháp đặc sắc về tự sự việc tả cảnh ngụ tình với những ngôn từ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi lòng và tâm trạng của Thúy Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Với nét bút tả cảnh ngụ tình Nguyễn Du đã miêu tả thành công tâm trạng của Thúy Kiều với những các từ khóa xuân đã cho thấy tình cảnh của Kiều lâm vào cảnh chim lồng cá chậu bị giam lỏng và khóa kín tuổi xuân của mình. Từ khóa xuân không phải nói tới những cô gái bị cấm cung mà chính là sự mỉa mai chua xót cho thân phận nàng Kiều. Kiều trơ trọi giữa thời gian mênh mông với không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương đôi đất khách quê người, cô đơn bị đày vào chốn lầu xanh.
Lầu Ngưng Bích vốn là một nơi có phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh hữu tình thơ mộng được thể hiện qua các từ ngữ non xa, trăng gần, cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm kia. Tuy nhiên từ xưa đến nay Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Trong tình cảnh bị giam cầm và tha hương cô đơn như thế, Kiều nhìn khung cảnh với con mắt buồn thảm vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn đất thì chỉ thấy cồn cát nhấp nhô phía bên là bụi hồng.
Ta có thể thấy lầu Ngưng Bích chỉ là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên giữa mênh mang trời nước. Trong cái không gian quẩn quanh mây sớm Đèn Khuya chính là một vòng tuần hoàn khép kín của thời gian tất cả như kìm hãm Tuổi Thanh Xuân của Kiều sự sống của Kiều đã bị những thế lực tàn ác của xã hội phong kiến bóc chết từ đó khắc sâu thêm nỗi buồn nỗi cô đơn khiến Kiều càng thấy bẽ bàng buồn tủi bởi không ai chia sẻ và nàng chỉ biết làm bạn với mây với đèn với cảnh vật hoang vu. Trong nỗi cô đơn tuyệt vọng ấy kiều cảm thấy xa cách hoang vắng, bị giam cầm cách biệt với nơi đất khách quê người.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Khi ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng. Đây là một nét bút đặc sắc độc đáo và phù hợp với tâm lý thể hiện lòng chung thủy của Thúy Kiều. Các từ ngữ tưởng, trông chờ trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều đã làm nổi bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng Kiều. Càng nhớ về lời thề đôi lứa lời hẹn ước năm nào lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề còn ở đây mà nay mỗi người một ngả khiến Thúy Kiều ân hận, xót xa giống như mình là một kẻ phụ tình chàng.
Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, lo âu cho dù mỗi người một phương nhưng tình cảm của nàng dành cho kim trọng là mãi mãi và không thể phai mờ. Càng nghĩ kều càng thấy lo lắng phải bật lên câu hỏi tu từ. Phải biết đến bao giờ nàng mới có thể rửa sạch được những ô uế của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng. Không chỉ nhớ người yêu, ở nơi lầu cao ấy nàng cũng nhớ về cha mẹ của mình:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Ngôn ngữ độc thoại kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng buồn của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ hôm mai, cách mấy nắng mưa diễn tả nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng. Kiều thương cho cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, ngày trông ngóng, nàng lo cho cha mẹ già yếu ở nhà không ai chăm sóc, phụng dưỡng. Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh cùng với điển tích Sơn Lai, gốc tử đã nói lên tâm trạng nhớ thương và thể hiện Kiều là một người con hiếu thảo.
Nàng lo sợ ở nơi quê hương mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại càng ngày càng già yếu nên nàng vô cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của một người con. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích. Phải lưu lạc tới nơi đất khách quê người chính bản thân Kiều mới là người đáng thương nhất, thế nhưng với tâm hồn và với những nét tính cách đẹp cao thượng của mình nàng luôn hy sinh bản thân mình, quên đi cảnh ngộ hiện tại của bản thân để lo lắng nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ, những người thân của Kiều. Nỗi nhớ đó của Kiều rất chân thực và có chiều sâu để từ đó ta có thể thấy đây là một người con hiếu thảo, một người tình chung thủy và một con người giàu lòng vị tha.
Tâm trạng buồn tủi của Kiều không chỉ còn ở trong lòng nữa mà đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài. Mỗi cảnh vật là một nét riêng và diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Khung cảnh mở ra cho chúng ta thấy được đây là một cảnh hoàng hôn cửa bể chiều hôm gợi cho chúng ta hình ảnh những tia nắng cuối ngày, phản chiếu trên mặt biển xanh khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm. Có cái gì đó tha thiết và nỗi nhớ mong, Kiều dường như tiếc nuối những ngày tháng trước kia. Các từ ngữ thấp thoáng, xa xa diễn tả sự lẻ loi, đơn độc giống như tình cảnh của Kiều bây giờ.
Một mình nơi xứ người bơ vơ nơi lầu ngưng Bích, Kiều chỉ biết nhớ về quê hương, nhớ về cha mẹ, mong chờ một con thuyền để có thể cứu nàng. Nhưng chiếc thuyền ấy chỉ thấp thoáng ở phía xa xa, lúc mờ lúc hiện Thuyền ai lênh đênh mất hút phía chân trời xa giống như cuộc đời Kiều lênh đênh chẳng biết chơi về đâu. Chẳng biết bao giờ mới có thể trở về nhà báo hiếu cho cha mẹ
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Cánh hoa mỏng manh dập dìu trong dòng nước bé nhỏ không chống chọi được với sức của mọi nước giống như chính thân phận Kiều trong xã hội cũ. Tuy là một người có đức có tài, có nét đẹp nhưng chính cường quyền áp bức đã vùi dập nàng, vùi dập tài năng của nàng. Thân phận Kiều giờ đây lạc lõng, lẻ loi trôi theo dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. Nhìn cánh hoa vùi dập nàng Kiều lại nhớ tới Kim Trọng, càng buồn tủi và xót xa cho thân phận của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Trái ngược với cái tên của lầu màu xanh qua con mắt của Kiều trở nên thật sầu thảm với từ láy rầu rầu gợi lên hình ảnh của một bãi cỏ tàn úa xơ xác. Tuổi thanh xuân tươi đẹp của Kiều với một tài sắc vẹn toàn đáng lẽ nàng phải có một cuộc sống đầy đủ, phải có một cuộc đời hạnh phúc thế nhưng Tuổi Thanh Xuân ấy sẽ phai tàn và vô vị như màu xanh héo úa kia. Màu xanh vốn là màu của hy vọng nhưng nay đã tàn úa giống như niềm tin của Thúy Kiều đang dần cạn với nỗi xót xa ngày càng dâng cao trong Thúy Kiều.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm, trong cảnh gió cuốn mặt dềnh giống như bão tố phong ba đang chờ đợi Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng không biết khi nào tai họa sẽ ập đến, giống như tiếng sóng ở ngoài xa, tiếng sóng ầm ầm chính là báo hiệu một tương lai đầy sóng gió khiến Kiều sợ hãi.
Với điệp ngữ Buồn trông đặt ở bốn câu đầu trong bài thơ giống như tiếng thở dài cùng với nhịp thơ trầm trầm và những thanh bằng đã nhấn mạnh một nỗi buồn đang ngày càng dâng lên trong tâm trạng của Thúy Kiều, cùng với cảnh vật đang càng lúc càng mênh mang những từ láy xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm như những con sóng đang trào dâng trong tâm hồn của Kiều.
Đoạn thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong truyện Kiều cũng như trong văn học trung đại Việt Nam. Qua đoạn thơ chúng ta có thể hiểu biết thêm về tính cách của Kiều. Đó là một người chung thủy, một người con hiếu thảo và là một con người của tấm lòng vị tha. Đồng thời ta cảm nhận được sự khắc nghiệt của xã hội phong kiến, đã đẩy những con người đáng thương như thế kia và hoàn cảnh éo le.
Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Thúy Kiều và chứng tỏ được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du. Chính sự bao dung, đồng cảm sẻ chia của Nguyễn Du đã đi vào tâm tưởng bằng thế hệ.
05/01/2026
Bảng tiêu chí đánh giá bài phân tích tác phẩm văn học
PhầnTiêu chí đạt Mở bài- Giới thiệu tên tác phẩm, thể loại, tác giả - Khái quát chủ đề và nghệ thuật nổi bật Thân bài- Trình bày luận điểm về chủ đề - Phân tích lí lẽ, dẫn chứng làm rõ nội dung
- Trình bày luận điểm nghệ thuật
- Phân tích lí lẽ, dẫn chứng làm rõ nghệ thuật |
| Kết bài | - Khẳng định lại chủ đề và nghệ thuật
- Nêu cảm nghĩ hoặc bài học từ tác phẩm |
| Diễn đạt | - Không lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
- Mở bài hấp dẫn, kết bài ấn tượng
- Dùng liên kết mạch lạc |
Nếu bạn cần mình chấm bài hoặc viết mẫu theo bảng này, chỉ cần gửi nội dung nhé
Hoai An
05/01/2026
✧˖°. 사랑🅽🅷í🅼~🅳🅰🆈🆈𝜗𝜚 ⊹
05/01/2026
ok, đợi mik chút ạ
✧˖°. 사랑🅽🅷í🅼~🅳🅰🆈🆈𝜗𝜚 ⊹
05/01/2026
Phân tích bài thơ Sang thu – Hữu Thỉnh
Mở bài
Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, thơ ông thường nhẹ nhàng, sâu lắng và giàu chất suy tư. Bài thơ Sang thu là một tác phẩm tiêu biểu, được viết theo thể thơ năm chữ. Qua những rung cảm tinh tế trước khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời bằng nghệ thuật miêu tả giàu cảm xúc .
Thân bài
1. Phân tích chủ đề
Bài thơ Sang thu trước hết là bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa với những dấu hiệu rất khẽ, rất nhẹ. Mở đầu bài thơ, Hữu Thỉnh cảm nhận mùa thu bằng khứu giác và xúc giác:
“Bỗng nhận ra hương ổiPhả vào trong gió se”
Hương ổi – mùi hương quen thuộc của làng quê – đã báo hiệu thu về một cách bất ngờ. Từ “bỗng” cho thấy sự ngạc nhiên, tinh tế của nhà thơ trước sự chuyển biến của đất trời. Gió không còn nồng nàn như mùa hạ mà đã “se”, mang theo cái dịu nhẹ của thu sang.
Không gian thu tiếp tục được mở rộng:
“Sương chùng chình qua ngõHình như thu đã về”
Từ láy “chùng chình” nhân hóa làn sương như có tâm trạng, vừa đi vừa ngập ngừng. Cách nói “hình như” thể hiện sự cảm nhận mơ hồ, tinh tế, cho thấy thu đến rất nhẹ, rất êm
Sang khổ thơ thứ hai và thứ ba, bức tranh thu trở nên rõ nét hơn:
“Sông được lúc dềnh dàngChim bắt đầu vội vã”
Thiên nhiên có sự đối lập: dòng sông thì chậm rãi, còn cánh chim lại vội vàng. Qua đó, tác giả gợi ra nhịp sống của vạn vật khi thu sang, đồng thời gửi gắm suy ngẫm về con người trước những đổi thay của cuộc đời.
2. Phân tích nghệ thuật
Thành công của bài thơ Sang thu trước hết nằm ở nghệ thuật miêu tả tinh tế. Tác giả sử dụng nhiều giác quan (khứu giác, thị giác, xúc giác) để cảm nhận thiên nhiên. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi với làng quê Việt Nam như hương ổi, dòng sông, cánh chim
Bên cạnh đó, các biện pháp tu từ như nhân hóa, từ láy giàu giá trị gợi hình (“chùng chình”, “dềnh dàng”) đã làm cho cảnh vật trở nên có hồn. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, thể hiện rõ phong cách thơ Hữu Thỉnh.
Kết bài
Bằng những cảm nhận tinh tế và nghệ thuật miêu tả giàu cảm xúc, bài thơ Sang thu đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp và yên bình trong khoảnh khắc giao mùa. Tác phẩm không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ mà còn gợi cho người đọc những suy ngẫm nhẹ nhàng về cuộc sống và con người
Nếu bạn muốn hỏi bài tập
Các câu hỏi của bạn luôn được giải đáp dưới 10 phút
CÂU HỎI LIÊN QUAN
06/01/2026
06/01/2026
Top thành viên trả lời