câu 1: Ngôi thứ nhất
câu 2: Câu văn "Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm tro xương, sót lại một vật to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc, cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ." sử dụng hai biện pháp tu từ chính là so sánh và liệt kê.
* So sánh: "Nó trong như gương" - So sánh ngang bằng, giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về độ trong suốt, sáng bóng của vật thể.
* Liệt kê: "không phải ngọc, cũng chẳng phải đá" - Liệt kê theo từng cặp đối lập, nhấn mạnh sự đặc biệt, hiếm có của vật thể.
Hai biện pháp tu từ kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả nghệ thuật độc đáo, khiến câu văn thêm phần sinh động, giàu sức gợi hình, gợi cảm, đồng thời tăng tính thuyết phục cho lời kể.
câu 3: - Đặc điểm của cô gái họ Trần: + Cô gái xinh đẹp, tài hoa, thông minh, dịu dàng, thùy mị, nết na. + Là người con hiếu thảo với cha mẹ. + Có tấm lòng thủy chung son sắt đối với người yêu.
câu 4: Yếu tố kì ảo trong đoạn trích là hình ảnh khối đá tự nhiên biến đổi theo cảm xúc của nhân vật Sinh. Hình ảnh này thể hiện sự kết hợp giữa thế giới thực và thế giới tâm linh, tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc biệt. Nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về nỗi đau và lòng trung thành của nhân vật Sinh đối với người yêu đã khuất. Đồng thời, nó cũng gợi lên suy ngẫm về ý nghĩa của tình yêu và sự hy sinh trong cuộc sống.
câu 5: : Phương thức biểu đạt chính là tự sự.
: - Nhân vật chính trong đoạn trích là Sinh và Trần Thị Lan.
: Chi tiết kì ảo trong đoạn trích là: + Đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. + Nhìn bên trong thì có bóng một con đò, trên đò có một chàng trai ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. + Ông nhớ lại chuyện ngày trước, mới hay con gái mình đã chết vì chàng lái đò, hối hận cũng không kịp nưã.
+ Sinh bỏ nhà, một thân trơ trọi lên đất cao bằng, sống dựa vào viên tưởng trấn thủ xứ âý.
+ Chàng được quý mến.
+ Hơn một năm sau, trong túi đã có chút của nả.
+ Vài năm sau nưã, sinh tích góp được hơn ba trăm lạng.
+ Làm lễ xong, ông trần mời sinh ở lại dùng cơm.
+ Ông mở hộp lấy ra đưa cho sinh.
+ Sinh nâng niu cầm lâý, xúc động khóc rống lên, nước mắt nhỏ xuống khối đá.
+ Bỗng nhiên, khối đá tan ra thành nước, chảy đầm đìa thành máu tươi, ướt đẫm ống tay áo chàng.
→ Tác dụng: Tạo sức hấp dẫn cho câu chuyện; tăng thêm tính chất li kì cho câu chuyện; tạo điều kiện để nhân vật bộc lộ phẩm chất, tính cách của bản thân...
: Thái độ, tình cảm mà tác giả muốn thể hiện thông qua bi kịch của cô gái họ Trần là: phê phán chế độ đa thê, trọng nam khinh nữ,...
câu 6: I. Yêu cầu về kĩ năng:
Học sinh nắm vững phương pháp làm bài nghị luận xã hội; vận dụng linh hoạt, hiệu quả các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; diễn đạt lưu loát, trong sáng, có tính thuyết phục. Bài viết phải đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận xã hội: có đủ Mở bài, Thân bài, Kết bài theo đúng yêu cầu của dạng bài nghị luận xã hội.
II. Yêu cầu về nội dung:
a. Giải thích vấn đề:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa: chịu nhiều thiệt thòi, bất công, ngang trái, bị coi thường, rẻ rúng...
- Xã hội hiện đại: người phụ nữ được tôn trọng, bình đẳng với nam giới, có quyền tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
b. Bàn luận vấn đề:
* Người phụ nữ trong xã hội xưa:
- Chịu nhiều thiệt thòi, bất công, ngang trái, bị coi thường, rẻ rúng...
+ Không được đi học, không được tiếp cận với tri thức.
+ Không được tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi.
+ Bị đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo khi đã có chồng, có con.
+ Khi mất đi, không được hưởng chế độ hưu trí, không được chăm sóc lúc ốm đau, bệnh tật.
(Dẫn chứng)
- Tuy vậy, vẫn có những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, vượt qua định kiến, cổ hủ phong kiến để khẳng định giá trị bản thân. Họ xứng đáng được trân trọng, ngợi ca.
* Người phụ nữ trong xã hội hiện đại:
- Được tôn trọng, bình đẳng với nam giới, có quyền tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Có thể tự chủ về kinh tế, tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi.
- Được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách ưu đãi dành cho phụ nữ.
- Nhiều người phụ nữ Việt Nam đã khẳng định được tài năng, trí tuệ của mình trên trường quốc tế, mang lại niềm tự hào cho dân tộc.
c. Liên hệ bản thân:
- Nhận thức đúng đắn về vai trò, vị thế của người phụ nữ trong xã hội.
- Trân trọng, yêu thương, giúp đỡ người phụ nữ.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.