Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, bên cạnh nền văn học dân gian đồ sộ với kho tàng ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, ngụ ngôn,... thì văn học viết cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Văn học viết Việt Nam bao gồm cả sáng tác thơ, văn xuôi, kịch... thuộc tất cả các thể loại như nhật kí, bút kí, hồi kí, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ...
Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết ghi chép lại những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích bằng chữ Hán trên các thẻ tre hoặc trên mai rùa, xương thú. Đó là những tác phẩm văn học viết đầu tiên của nước ta.
Trong buổi đầu dựng nước, chữ Hán được dùng làm văn tự để ghi chép tất cả mọi thứ liên quan tới triều đình. Đến khoảng cuối thế kỉ XIV, sau khi đánh đuổi quân Mông Nguyên, giành độc lập cho đất nước, vua Trần Nhân Tông đã giao nhiệm vụ cho Nguyễn Thuyên (còn gọi là Nguyễn Sưởng) phải sáng tạo ra chữ Nôm nhằm ghi chép tiếng Việt. Từ đó, chữ Nôm dần dần thay thế chữ Hán trong việc ghi chép tiếng Việt.
Đến thế kỉ XV, dưới thời Lê Thánh Tông, triều đình mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài. Người đỗ Trạng nguyên khoa thi này là Nguyễn Trực, quê ở làng Đại Mão, huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Mão, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông đã góp phần đưa chữ Nôm lên một tầm cao mới.
Cũng trong thế kỉ XV, hai tác phẩm lớn được biên soạn là bộ "Đại Việt sử kí toàn thư" và "Lam Sơn thực lục". Đây là những cuốn sử liệu quý giá giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử nước nhà.
Thế kỉ XVI, XVII là giai đoạn chữ Nôm phát triển rực rỡ nhất. Có rất nhiều tác phẩm lớn được sáng tác bằng chữ Nôm như "Nam Thiên chí" của nhóm văn nhân Biên Hòa - Đồng Nai; "Trích diễm thi tập" của Hoàng Đức Lương; "Hồng Đức quốc âm thi tập" của vua Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn; "Bạch Vân am quốc ngữ thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm; "Hậu tự Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh" của Phùng Khắc Khoan; "Tùng Khê thi tập" của Đào Duy Tư; "Sông núi nước Nam" của Lí Thường Kiệt; "Phò giá về kinh" của Trần Quang Khải; "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão; "Tụng giá hoàn kinh sư" của Trần Quang Khải; "Thiên Trường vãn vọng" của Trần Nhân Tông; "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan; "Sa hành đoản ca" của Cao Bá Quát; "Chinh phụ ngâm khúc"; "Tự tình" của Hồ Xuân Hương; "Truyện Kiều" của Nguyễn Du; "Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô Gia Văn Phái; "Chinh phụ ngâm khúc" của Đặng Trần Côn; "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu; "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh; "Thơ Hồ Chí Minh"...
Nhiều thể loại văn chương khác nhau được ra đời như thơ thất ngôn bát cú Đường luật, tứ tuyệt, song thất lục bát, hát nói, truyện thơ Nôm, tiểu thuyết chương hồi, phóng sự, tùy bút, kịch nói...
Tuy nhiên, sang nửa sau thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng tìm đủ mọi cách để đồng hóa dân tộc ta. Chúng cấm dạy và học chữ Hán, chữ Nôm, buộc nhân dân ta phải học chữ Quốc ngữ (chữ La tinh) và tiếng Pháp. Do vậy, chữ Nôm không còn được sử dụng rộng rãi nữa.
Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, nhưng chữ Nôm vẫn tồn tại và phát triển trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho đến tận đầu thế kỉ XX, khi phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh khởi xướng được lan truyền rộng rãi trong nhân dân, ông đã nhận thấy rằng muốn giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thì trước hết phải giải phóng con người khỏi lạc hậu. Vì vậy, ông chủ trương dùng chữ Quốc ngữ để in sách báo tuyên truyền cho phong trào.
Một số nhà nho yêu nước như Bùi Kỷ, Vũ Đình Liên, Á Nam Trần Tuấn Khải, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu... cũng tham gia vào công cuộc cải cách chữ Nôm. Họ đã bỏ bớt nhiều chữ không cần thiết, ghép thêm chữ mới để tiện lợi hơn trong việc ghi chép tiếng Việt. Nhưng vì thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước nên công cuộc này chưa đạt được kết quả mong đợi.